Bài viết của thí sinh sẽ phần nào trở nên đơn điệu nếu không sử dụng
thao tác so sánh, bác bỏ khi nghị luận văn học.
Để có một bài nghị luận
văn học, người viết phải biết vận dụng thuần thục và hợp lý các thao tác lập luận.
Trong chương trình ngữ văn THPT, học sinh đã được trang bị kiến thức lý thuyết và
thực hành vận dụng 6 thao tác lập luận, bao gồm: Giải thích, phân tích, chứng minh,
bình luận, so sánh, bác bỏ. Các thao tác này tương ứng với 6 bài học được sắp xếp
theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ cơ bản đến nâng cao và trải dài theo
chương trình Ngữ văn lớp 10-12. Mục đích của hệ thống bài học về các thao tác lập
luận giúp học sinh nắm vững lý thuyết và có khả năng vận dụng thành thục khi viết
một bài văn nghị luận.
Tuy nhiên, hiện nay rất
ít học sinh ý thức một cách sâu sắc điều này. Hầu hết em khi viết văn chỉ quan tâm
đến việc viết cái gì, chưa thực sự để tâm đến việc viết như thế nào, sử dụng các
thao tác lập luận ra sao?
Thông thường khi làm bài
nghị luận văn học, học sinh chỉ sử dụng 4 thao tác: giải thích, phân tích, chứng
minh và bình luận. Thao tác so sánh được sử dụng rất ít, còn thao tác bác bỏ thì
gần như không được đưa vào. Tuy nhiên, đây lại là những "phép" giúp bài
viết của thí sinh trở nên dày dặn, rõ ràng và sâu sắc hơn.
Sử dụng thao tác lập luận
so sánh để thể hiện cái nhìn bao quát
So sánh là thao tác lập
luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc các mặt của một sự vật
để chỉ ra những nét giống hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật
mà mình quan tâm.
Trong bài văn nghị luận
văn học, ngay ở phần mở bài chúng ta có thể sử dụng thao tác lập luận so sánh để
nêu vấn đề một cách ấn tượng trong tương quan với các nội dung tương đồng.
Chẳng hạn khi cảm nhận
về tư tưởng "Đất nước của nhân dân" trong đoạn trích Đất nước của
Nguyễn Khoa Điềm, chúng ta có thể đặt nó trong tương quan so sánh với cảm nhận về
đất nước trong thơ của các tác giả thế hệ trước và cùng thế hệ. Hay khi cảm nhận
hình tượng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng
Phủ Ngọc Tường, thí sinh có thể đặt nó trong tương quan so sánh với hình tượng sông
Đà trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân…
Tuy nhiên, thao tác so
sánh chỉ thực sự phát huy hết ý nghĩa khi người viết biết vận dụng một cách triệt
để vào phần thân bài. Khi đó, học sinh có một bài viết sâu sắc, dày dặn hơn so với
bài viết thông thường.
Các vấn đề văn học không
bao giờ tồn tại một cách độc lập tuyệt đối và luôn có mối quan hệ mật thiết trên
nhiều bình diện: giai đoạn, thể loại, đề tài, phong cách, ngôn ngữ, giọng điệu,
cảm hứng… Vì vậy việc so sánh không đơn thuần chỉ là kỹ năng làm bài hay hình thức
trình bày của đoạn văn nghị luận mà còn có ý nghĩa khoa học, thể hiện cái nhìn bao
quát, hiểu biết toàn diện về vấn đề.
Tùy vào yêu cầu của từng
đề nghị luận, người viết sẽ tìm ra đối tượng so sánh hợp lý. Chẳng hạn khi cảm nhận
về vẻ đẹp của hình tượng nhân vật người lái đò sông Đà trong tác phẩm cùng tên của
Nguyễn Tuân, thí sinh có thể so sánh với nhân vật ông lão Xa-ti-a-gô trong Ông
già và biển cả của Hemingway để thấy được điểm tương đồng trong mô típ con người
đơn độc và dũng cảm đối đầu với sức mạnh của thiên nhiên.
Bên cạnh đó học sinh cũng
có thể so sánh với nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
để thấy được sự thay đổi trong quan niệm về người anh hùng và những chuyển biến
về nội dung, tư tưởng trong tác phẩm của nhà văn họ Nguyễn…
Cần tinh tế khi sử dụng thao tác lập luận bác bỏ
Bác bỏ là chỉ ra ý kiến
sai trái của vấn đề, trên cơ sở đó đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập
trường của mình. Khác với so sánh, thao tác bác bỏ rất ít dùng trong phần mở bài
và không dùng phổ biến trong thân bài. Để sử dụng thao tác lập luận này, học sinh
cần tinh tế cả về tư duy lập luận bác bỏ và hành văn chừng mực.
Thông thường, trong một
bài văn nghị luận, nếu đề bài đưa ra 2 ý kiến một đúng, một sai thì lúc đó thao
tác bác bỏ mới được sử dụng để lập luận bác bỏ ý kiến sai. Chẳng hạn đề bài cho
2 nhận định về nhân vật Tràng trong Vợ nhặtcủa Kim Lân: Ý kiến thứ nhất cho
Tràng là gã trai quê nông nổi, liều lĩnh; Ý kiến thức 2 khẳng định, đó là con người
đầy khao khát, tốt bụng. Để giải quyết vấn đề nghị luận này học sinh có thể vận
dụng thao tác bác bỏ phủ định tính phiến diện của ý kiến thứ nhất. Từ đó khẳng định
tính toàn diện, đúng đắn, sâu sắc của ý kiến thứ hai.
Nếu đề chỉ yêu cầu phân
tích, cảm nhận bình thường (vấn đề nghị luận mang tính thuận chiều) thì người viết
chỉ có thể sử dụng thao tác bác bỏ ở phần cuối thân bài để nâng cao, mở rộng làm
sâu sắc vấn đề.
Muốn sử dụng được thao
tác bác bỏ người viết phải tự giả định những ý kiến trái chiều để có lập luận bác
bỏ. Chẳng hạn đề bài chỉ yêu cầu cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong bài
thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Nếu trả lời đầy đủ, thuận chiều học sinh phải chỉ
ra được những đặc điểm cơ bản: Đó là tâm hồn của một người phụ nữ vừa mang nét đẹp
hiện đại lại vừa rất truyền thống; vừa hồn nhiên, trực cảm lại vừa có những dự cảm,
âu lo…
Còn nếu muốn sử dụng thao
tác bác bỏ thì thí sinh tự đặt ra giả định: "Có ý kiến cho rằng tâm hồn người
phụ nữ trong bài thơ dù trải qua nhiều vấp ngã, đổ vỡ trong tình yêu và hôn nhân
nhưng vẫn hồn nhiên, trực cảm, vẫn vui tươi". Trên cơ sở ý kiến giả định đó,
thí sinh sử dụng thao tác bác bỏ để phủ nhận tính phiến diện, đồng thời bổ sung
và khẳng định ý kiến đúng đắn, toàn diện của mình.
Theo thầy Đặng Ngọc Khương/Hocmai
loading...
0 nhận xét Blogger 0 Facebook